Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

Những ngộ nhận nguy hiểm về giải độc gan

Rượu bia thoải mái vì đã có sản phẩm giải độc gan?
Liệu các sản phẩm giải độc gan có thể ngăn ngừa gan khỏi những tổn thương do bia, rượu? Câu trả lời là: Có. Tuy nhiên, chỉ khi chúng ta sử dụng sản phẩm chất lượng kết hợp với một lối sống có chừng mực thì sản phẩm mới phát huy hết tác dụng của nó. Theo bác sĩ Lê Mạnh Hùng (Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới) một trong những yếu tố dẫn đến bệnh gan là do tâm lý ỷ lại vào các giải pháp giã rượu, thanh lọc gan mà liên tục sử dụng các chất có cồn trong thời gian dài.
 
Những ngộ nhận nguy hiểm về giải độc gan 1
Nên biết rằng, lá gan của chúng ta phải làm việc 24 giờ mỗi ngày, liên tục 7 ngày trong tuần để loại bỏ vô số độc tố mà chúng ta dung nạp vào cơ thể qua đường ăn uống, hô hấp, tiếp xúc qua da... Trong đó, chất cồn trong rượu bia khi vào cơ thể phần lớn sẽ được hấp thu qua ruột rồi chuyển đến gan. Lá gan có các hệ thống giúp chuyển hóa cồn thành những chất vô hại với gan và được thải trừ ra khỏi cơ thể. Tuy nhiên, một lá gan khỏe mạnh chỉ có thể xử lý được một lượng cồn không quá 30 gram mỗi ngày (10 gram cồn tương đương với 1 lon bia 250 ml hoặc 100 ml rượu vang hoặc 25 ml rượu nồng độ 40%). Nếu vượt quá giới hạn trên, hệ thống men chuyển hóa cồn của gan bị quá tải nên các sản phẩm chuyển hóa độc hại của cồn sẽ tích tụ làm tổn thương gan, gây tụ mỡ, viêm gan và cuối cùng có thể dẫn đến xơ gan. 
Thiên nhiên không có nghĩa là vô hại
Theo kinh nghiệm dân gian, có rất nhiều bài thuốc quý từ cỏ cây, hoa trái giúp giải độc và điều trị các bệnh về gan, đặc biệt là bệnh gan do rượu. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, không phải sản phẩm giải độc nào từ thiên nhiên cũng hoàn toàn vô hại. Không ít trường hợp người tiêu dùng rơi vào cảnh lợi bất cập hại vì những sản phẩm không rõ nguồn gốc, chất lượng.
Quả thật, trong các sản phẩm từ thiên nhiên có chứa nhiều hoạt chất có lợi cho gan. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là mọi sản phẩm được điều chế từ thiên nhiên đều có đầy đủ các chất cần thiết, không có lẫn các tạp chất có hại, ngoại trừ sản phẩm đã qua nghiên cứu kỹ lưỡng, được chứng minh hiệu quả qua thử nghiệm lâm sàng theo đúng trình tự khoa học và được sản xuất bởi các đơn vị có uy tín.
Ví dụ, việc chiết xuất và phối hợp các hoạt chất như Protease, Peroxidase, Beta-caroten... từ đu đủ, củ cải, mướp đắng, gấc, lê-ki-ma, tỏi... để điều chế thành Naturenz là một công trình phức tạp, đòi hỏi chuyên môn cao. Naturenz là chế phẩm giúp giải độc và tăng cường chức năng gan mà hiện nay, tại Việt Nam chỉ có duy nhất Viện Công nghệ Sinh học (thuộc Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam) nghiên cứu thành công phương pháp điều chế. Bản thân Viện cũng phải mất đến 20 năm để nghiên cứu và sau đó là quá trình kiểm chứng gắt gao với thí nghiệm lâm sàng trên người nhiễm chất độc dioxin từ chiến tranh để thấy được hiệu quả rõ rệt.
 
Những ngộ nhận nguy hiểm về giải độc gan 2
Chuyên gia Nguyễn Thị Ngọc Dao thuộc Viện Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam
đang chia sẻ về sản phẩm Naturenz
PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dao đến từ Viện Công Nghệ Sinh Học, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công Nghệ Việt Nam chia sẻ về công trình nghiên cứu: “Mặc dù từ xa xưa, dân gian ta đã biết những rau củ quả thông dụng như mướp đắng, gấc, đu đủ, củ cải, tỏi, lê ki ma... có tác dụng giải độc gan, trị táo món, mụn, nám da... nhưng việc nghiên cứu và cho ra đời một sản phẩm tốt cho gan từ nguồn nguyên liệu tự nhiên lại là một vấn đề không đơn giản. Đó là lý do mà hàng chục năm qua, đông đảo những người gặp vấn đề gan ở Việt Nam đã phải oằn gánh cõng các loại phí đắt đỏ của sản phẩm ngoại nhập. Vì sao người nông dân của chúng ta có thể trồng ra nguyên liệu tốt nhưng lại phải tiêu tốn rất nhiều tiền để mua sản phẩm từ nước ngoài? Điều này chính là động lực để chúng tôi không ngừng tìm cách nghiên cứu ra Naturenz".
Năm 2005, đề tài nghiên cứu của Viên Công Nghệ Sinh Học được chuyển giao cho Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (DHG Pharma). Công ty DHG đã ứng dụng dây chuyền sản xuất hiện đại, tiến hành nghiên cứu thêm các dạng bào chế, hình thức sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng Việt Nam để cho ra đời sản phẩm Naturenz chất lượng hiện nay.
Trong khi đó, những thang thuốc được điều chế theo mô tuýp chung "sao vàng, hạ thổ, đổ 3 bát nước, sắc còn lưng bát" hay những sản phẩm sản xuất hàng loạt nhưng lại kém chất lượng đều có thể chứa những tạp chất không tốt cho sức khỏe. Khi đó, không chừng lá gan chỉ nhận được 1 phần giải dược nhưng lại tốn đến 10 phần để thanh lọc các chất có hại không mời mà đến từ sản phẩm giải độc gan. 
 
Naturenz gồm các chiết xuất thiên nhiên từ nguồn nông sản được trồng trọt trên đất nước ta với công thức phù hợp nhất với thể trạng người dân Việt Nam.
 
Những ngộ nhận nguy hiểm về giải độc gan 3
Naturenz là tổng hợp các chiết xuất từ đu đủ, củ cải, mướp đắng, lê-ki-ma và các enzym thủy phân từ nhộng tằm giúp tăng cường giải độc, phòng ngừa và điều trị các vấn đề về gan như nhiễm siêu vi, gan nhiễm mỡ, nhiễm độc gan, suy giảm chức năng gan. Sản phẩm được khuyên dùng thường xuyên uống rượu bia, hút thuốc lá, nổi mụn, da sần sùi, khô, nứt nẻ, sạm nám...
VC

Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2013

Giải độc cho gan bằng thảo dược và hoa quả

Lá gan là cơ quan lớn nhất trong cơ thể. Tất cả các chất vào cơ thể đều qua gan vào máu và đến các nơi. Tuy nhiên, thống kê cho thấy, hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 2 tỷ người mang những nguy cơ mắc bệnh về gan vì nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do uống quá nhiều rượu.
 
Theo lý giải của các bác sĩ, sở dĩ như vậy là vì sau khi hấp thu, phần lớn rượu được chuyển hóa ở gan. Do đó, nếu uống rượu với số lượng quá nhiều, gan sẽ không kịp sản xuất đủ số lượng men để chuyển hóa giải độc rượu. Hậu quả là rượu sẽ bị ứ lại trong cơ thể và gây độc cho nhiều cơ quan nội tạng, trong đó gan là cơ quan bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Điển hình cho các căn bệnh về gan là xơ gan mãn tính, gan nhiễm mỡ, viêm gan, ung thư gan.
 
Điều đáng nói là diễn tiến của bệnh gan thường kéo dài. Giai đoạn đầu không có triệu chứng rõ ràng nên nhiều người không để ý, đến khi có dấu hiệu như vàng da, vàng mắt, bụng to, chân phù, chảy máu… thì bệnh đã ở giai đoạn trễ, làm hạn chế hiệu quả điều trị. Do vậy, theo lời khuyên của các bác sĩ, những người thường hay uống rượu bia cần phải theo dõi sức khỏe định kỳ. Tốt nhất, để phòng ngừa các tổn thương ở gan do rượu bạn nên hạn chế uống rượu bia, đồng thời kết hợp ứng dụng các phương thức hiệu quả từ tự nhiên.

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Giao, viện Công nghệ sinh học, viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có rất nhiều cây cối, hoa quả, trong đó có những hệ enzyme rất tốt cho cơ thể. Ngoài các vitamin, các chất xơ thì nó còn có cá hệ enzyme giúp bảo vệ cơ thể.
 
Cũng theo PGS Ngọc Giao, từ xưa đến nay, nhiều loại cây cỏ có tác dụng giải độc cho gan được sử dụng nhưng chủ yếu chế biến bằng cách nấu cao hoặc sắc nước để uống. Ngày nay, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu, tổng hợp các tinh chất từ hoa trái, cỏ cây với mục đích ứng dụng hiệu quả vào thực tế, như hỗ trợ điều trị gan nhiễm mỡ, viêm gan, đồng thời tăng cường kháng thể.
 
Có thể kể đến trong số này có tổng hợp Papain từ đu đủ, Alicin từ bột tỏi, Betacarotene từ gấc, quả trứng gà, Enzyme Peroxidase từ mướp đắng, củ cải cùng Pluriamin được thủy phân từ nhộng tằm tạo nên hợp chất hữu ích Naturens, cung cấp acid amin cần thiết cho cơ thế, ngăn ngừa tiền ung thư gan. Thực tế, mỗi loại nguyên liệu từ tự nhiên đó đều có tác dụng hữu hiệu trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe. Cụ thể:
 
- Ăn đu đủ thường xuyên có tác dụng bổ máu, chữa chứng mất ngủ, viêm dạ dày mãn tính, giúp hồi phục gan, tăng sức đề kháng cho cơ thể.

- Tỏi giúp phục hồi allicin, một hợp chất tự nhiên trong cơ thể, có tác dụng chống ung thư cùng các bệnh về tim mạch, giảm cholesterol và giảm huyết áp.
 
- Gấc dùng để nấu xôi vừa ngon, đẹp lại nhuận tràng, tốt cho tiêu hóa. Đặc biệt, gấc chứa nhiều betacaronten, là tiền sinh tố vitamin A, có lợi cho mắt. Trong lớp màng đỏ bao quanh hạt gấc có chứa vitamin E, hữu hiệu để chống sạm da, khô da, rụng tóc.
 
- Quả trứng gà hay còn gọi là lêkima cũng là một loại trái cây có chứa nhiều carotene, vitamin B3 và các nhóm vitamin B khác, có khả năng chống lão hóa. Đặc biệt tinh dầu chiết xuất từ hạt lêkima còn có khả năng làm lành vết thương.
 
- Nước cốt mướp đắng tươi, có tác dụng hạ đường huyết, lý tưởng cho người bệnh đái tháo đường. Nước nấu mướp đắng có công hiệu thanh nhiệt, thích hợp cho người bị chứng nóng gan.
 
- Cà gai leo dùng chữa ngộ độc rượu rất tốt, có tác dụng bảo vệ tế bào gan. Nếu bị say, uống nước sắc của rễ hoặc thân lá sẽ nhanh tỉnh rượu
 
- Cây chó đẻ răng cưa, theo kinh nghiệm dân gian dùng làm thuốc, giã nát với muối chữa mụn nhọt, đặc biệt tốt cho gan bằng cách lấy 20-40g cây tươi, sao khô sắc đặc dùng để uống hàng ngày.
 
- Cây giảo cổ lam tốt cho tế bào gan, tăng cường chức năng giải độc của gan, làm hạ mỡ máu, ngăn ngừa xơ vữa mạch máu, và bình ổn huyết áp, phòng ngừa các bệnh về tim mạch.    

Thứ Năm, 26 tháng 12, 2013

Mối nguy từ thuốc giải độc gan

Ban đầu dùng thuốc, chị Hòa thấy người khỏe khoắn, da đẹp hơn. Tuy nhiên sau một thời gian sử dụng thường xuyên, chị thấy người uể oải, chán ăn, đi xét nghiệm kết quả cho thấy gan của chị bị tổn thương do lạm dụng thuốc.
Bệnh nhân điều trị suy gan. Ảnh: Lê Phương.
Bệnh nhân nhập viện điều trị suy gan. Ảnh: Lê Phương.
Tiến sĩ, bác sĩ Lê Mạnh Hùng, Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới tại TP HCM cho biết, bệnh viện thường tiếp nhận nhiều trường hợp bệnh nhân với những tổn thương gan, viêm gan do sử dụng các thuốc giải độc gan, thuốc bổ gan tùy tiện, không theo chỉ định.
Theo bác sĩ Hùng, sai lầm nhiều người hay mắc phải là khi cơ thể có triệu chứng bất thường đều nghĩ là do “nóng gan” nên mua thuốc giải độc gan, làm mát gan về uống tràn lan. Thường gặp nhất là khi bệnh nhân nổi mụn nhọt, ngứa ngáy, sắc tố da thay đổi… “Có nhiều bệnh lý gan góp phần gây nên những biểu hiện xấu trên da nhưng không ít trường hợp là các nguyên nhân rối loạn nội tiết, yếu tố thời tiết, chế độ dinh dưỡng, bệnh huyết học hoặc một số bệnh lý khác chứ không phải do gan”, bác sĩ Hùng lý giải.
Bác sĩ nhấn mạnh, về nguyên tắc không có bệnh thì không dùng thuốc. Việc dùng thuốc giống như một “con dao hai lưỡi”. Dùng thuốc tức là đưa dược chất vào cơ thể để trị bệnh, ngoài tác dụng chính để trị bệnh, thuốc có thể gây nên những tương tác bất lợi nhất là khi lạm dụng thuốc, dùng thuốc không có hướng dẫn chuyên môn. Thuốc được dùng đúng chỉ định, chính xác thì mới đem lại lợi ích cho người bệnh và tránh được các rủi ro, bất lợi. Hầu như các thuốc sau khi sử dụng đều được đưa đến gan để chuyển hóa và đào thải ra ngoài. Trong quá trình thu nhận và chuyển hóa thuốc, có thể đưa đến các chất có hại gây bệnh cho gan ngay cả khi lá gan đang khỏe mạnh. 
Quan niệm sai lầm thường gặp là nhiều người nghĩ rằng các giải độc gan, bổ gan nguồn gốc thảo dược (thuốc Nam, thuốc Đông y,…) vì do chế biến từ cây cỏ thiên nhiên nên vô hại, uống vào “không bổ ngang cũng bổ dọc”. Bác sĩ Hùng đưa ra ví von, cùng một giống cây, nếu mang trồng trên đất này sẽ cho ra quả ngọt, quả to nhưng mang sang đất khác sẽ cho ra quả nhỏ, chua, tùy thuộc vào các điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu... Việc sử dụng các loại thuốc này ở mỗi cơ thể khác nhau cũng vậy. Thuốc Đông y, thuốc Nam cũng là thuốc và cần phải sử dụng theo chỉ dẫn của thầy thuốc trên cơ địa của từng người với từng chẩn đoán bệnh khác nhau, không thể sử dụng tràn lan theo kiểu truyền miệng.
Trong các loại cây thảo dược có những hoạt chất trị bệnh được nhưng cũng có nhiều chất không trị bệnh được và có thể gây hại cho gan. Chính vì vậy việc sử dụng các thuốc này cần phải được nghiên cứu, có quy trình bào chế đúng cách thì mới giúp giữ lại những hoạt chất có lợi, loại bỏ những hoạt chất có hại chứ không phải đơn thuần thuốc nào cũng “sao vàng, hạ thổ, đổ vào… ly nước, sắc còn…” là dùng được. Đó là chưa kể đến trường hợp nhiều người sử dụng các cây thuốc được trồng ở những nơi có độc chất, cây thuốc được bảo quản không tốt bị ẩm mốc, nhầm thuốc… dẫn đến nhiễm độc gan nghiêm trọng.
Một vấn đề phổ biến là nhiều người sử dụng thuốc giải độc gan để ngăn ngừa những tổn thương do uống bia, uống rượu. Do tâm lý đã có thuốc “giải độc”, bảo vệ gan nên nhiều người chủ quan, càng thỏa sức uống bia rượu nhiều hơn. “Dĩ nhiên các loại thuốc này cũng hỗ trợ cho gan trong vấn đề thanh nhiệt, giải độc nhưng đây chỉ là giải pháp tình thế, tạm thời. Nếu uống bia rượu liên tục, uống quá nhiều thì không có thuốc nào có thể giúp gan khỏe được”, bác sĩ Hùng cảnh báo.
Lê Phương

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

Viêm gan virus C ở các bệnh nhân giai đoạn bệnh tiến triển: có điều trị hay không và giới hạn của điều trị là như thế nào?

Số lượng bệnh nhân với viêm gan virus C tiến triển đến khám và điều trị bệnh viêm gan C mạn tính đang tăng lên.

Thầy thuốc cần nhận ra mức độ nghiêm trọng của bệnh gan sẵn có trước khi khuyến nghị hoặc bắt đầu liệu pháp kháng virus cho bệnh nhân. Nhìn chung, bảng phân loại Child-Turcotte-Pugh (CTP) là hữu ích cho việc xác định xơ gan còn bù (nhóm A) hoặc mất bù (nhóm B hoặc C).
Bệnh nhân với xơ gan còn bù có nhiều cơ hội hơn với đáp ứng virus bền vững (SVR) và ít bị tổn thương bởi các biến chứng hoặc sự cố nghiêm trọng không mong muốn.
Bệnh nhân xơ gan mất bù khó điều trị, khó chữa khỏi và nên được xử trí ngay từ đầu bởi các bác sĩ hoặc người chăm sóc sức khỏe có kinh nghiệm trong điều trị HCV và xử trí xơ gan.
Điều trị cho HCV RNA huyết thanh trở về bình thường trước khi ghép gan giúp giảm tỷ lệ tái phát viêm gan C sau ghép gan.
Những bệnh nhân này dễ bị giảm số lượng tế bào- thường là diễn biến xấu hơn khi điều trị: dẫn xuất của erythropoietin và yếu tố sinh trưởng như G-CSF thường được sử dụng.
Bác sĩ được yêu cầu phải theo dõi những bệnh nhân này kỹ lưỡng đề phát hiện và xử trí các biến cố bất lợi do điều trị.
1.Diễn tiến tự nhiên sau khi xuất hiện xơ gan
Về mặt lâm sàng, xơ gan do HCV tiến triển từ còn bù sang mất bù. Định nghĩa “còn bù” nghĩa là bệnh nhân theo thang điểm CTP được xếp vào nhóm A hoặc 6 điểm hoặc ít hơn, điểm MELD thấp, và không có tiền sử các biến chứng trên lâm sàng. Mặc cho sự tương đối ổn định về mặt lâm sàng tại thời điểm xuất hiện, bệnh nhân với xơ gan còn bù có tăng nguy cơ bệnh tiến triển và lâm sang diễn biến xấu đi. Tỷ lệ ước tính sự tiến triển xấu đi về mặt lâm sàng (mất bù), u gan và tử vong do bệnh gan ở bệnh nhân với xơ gan còn bù theo thứ tự là 3.6-6.0%/năm, 1.4-3.3%/năm và 2.6-4.0%/năm. Bệnh nhân với viêm gan C và xơ gan bị mất bù thì tỷ lệ sống sót 5 năm chỉ là 50%.
2.Mục đích điều trị của liệu pháp kháng virus
Bệnh lý tiến triển là do sự liên tục nhân đôi chủ động của virus. Đáp ứng virus bền vững (SVR) với liệu pháp kháng virus giảm nguy cơ tiến triển từ xơ hóa đến xơ gan và, ở bệnh nhân với xơ gan còn bù, giảm nguy cơ mất bù, tử vong liên quan đến bệnh gan và u gan. SVR còn có thể cải thiện kết quả điều trị ở các bệnh nhân với xơ gan mất bù. Do đó, mục đích chủ yếu của điều trị xơ gan, còn bù hay mất bù, là SVR. Ở các bệnh nhân đang chờ đợi ghép gan, một mục đích khác là giúp HCV RNA của bệnh nhân trở về âm tính trước khi ghép gan để phòng ngừa tái phát nhiễm HCV sau ghép gan và viêm gan thải ghép.
3.Liệu pháp kháng virus ở bệnh nhân xơ gan còn bù lần đầu
Thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát quy mô lớn với liệu pháp interferon bao gồm một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân với xơ hóa bắc cầu tiến triển hoặc xơ gan còn bù. Tất cả các bệnh nhân với xơ gan tham gia vào các thử nghiệm này đều có bệnh lý gan còn bù tốt (xét nghiêm lâm sàng bình thường hoặc gần như bình thường và không có tiền sử xơ gan mất bù). Mặc dù tiêu chuẩn để vào thử nghiệm của số lượng tiểu cầu là thấp ngang mức 90-100*10^9/L, số lượng tiểu cầu trung bình là nằm trong giới hạn bình thường. trong những thử nghiệm này SVR thấp hơn 5-10% ở bệnh nhân với xơ hóa tiến triển hoặc xơ gan khi so sánh với bệnh nhân xơ hóa ở mức độ thấp hơn. SVR từ 5-15% với interferon đơn liệu pháp, 30-40%  với interferon và ribavirin, 40-50% với peginterferon và ribavirin. Đáp ứng thấp nhất ở bệnh nhân nhiễm kiểu gen 1, đặc biệt ở những bệnh nhân có lượng virus cao. Trong nghiên cứu của Hadziyannis và đồng sự, SVR là 41% khi nhiễm kiểu gen 1 và 73% ở kiểu gen 2 và 3 với xơ hóa bắc cầu hoặc xơ gan. Helbling và đồng sự nghiên cứu ngẫu nhiên 124 bệnh nhân xơ hóa tiến triển hoặc xơ gan còn bù với peginterferon kèm ribavirin liều thấp hoặc tiêu chuẩn. nhìn chung SVR là 58% ở bệnh nhân nhiễm HCV typ 2 hoặc 3 và 32% ở bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gen 1.
4.Liệu pháp kháng virus ở bệnh nhân xơ gan còn bù đã từng qua điều trị.
Ở pha đầu vào của thử nghiệm kháng virus viêm gan C trong điều trị lâu dài xơ gan (HALT-C), 1145 bệnh nhân mà trước đó không đáp ứng với interferon(INF) hoặc INF/ribavirin với xơ hóa tiến triển hoặc xơ gan đã được điều trị lại với peginterferon/ribavirin. Nhìn chung tỷ lệ SVR là 18% và liên quan đến kiểu điều trị trước liệu pháp: SVR là 27% khi liệu pháp trước đó là INF đơn liệu pháp, 34% với pegINF đơn liệu pháp, 13% với INF/ribavirin và 11% với pegINF/ribavirin. SVR liên quan với kiểu gen HCV 2 hoặc 3, tỷ lệ tiểu cầu cao và điểm xơ hóa ít và tổn thương bởi sự giảm liều.
SVR giảm từ 23% ở bệnh ít nghiêm trọng đến 9% ở bệnh lý nghiêm trọng nhất mà không phụ thuộc vào sự giảm liều. Bệnh nhân với bệnh lý ít nghiêm trọng nhất được định nghĩa là xơ hóa và số lượng tiểu cầu vượt quá 125*10^9/L, còn ở bệnh nhân với bệnh lý nghiêm trọng nhất là xơ gan và số lượng tiểu cầu bằng hoặc ít hơn 125*10^9/L. sự giảm SVR, độc lập với sự giảm liều và các yếu tố khác dự báo đáp ứng, chỉ ra rằng bệnh nhân với xơ gan không chỉ khó điều trị mà còn tương đối đề kháng với pegINF/ribavirin và do đó khó có thể chữa khỏi.
Bệnh nhân với xơ gan phơi nhiễm với HCV kiểu gen 2 hoặc 3 dường như đạt được SVR cao hơn so với bệnh nhân nhiêm HCV kiểu gen 1 khi tái điều trị với pegINF/ribavirin. Trong thử nghiệm EPIC, 2333 bệnh nhân trước đó không đáp ứng hoặc tái phát với INF/ribavirin hoặc pegINF/ribavirn được tái điều trị với pegINF/ribavirin. Tỷ lệ SVR ở các bệnh nhân với xơ gan còn bù tái điều trị với pegINF/ribavirin được trình bày trong bảng 1. Tỷ lệ SVR cao hơn ở các bệnh nhân tái phát khi so sánh với các bệnh nhân không đáp ứng điều trị trên tất cả các kiểu gen.
Bảng 1: Tỉ lệ SVR ở bệnh nhân xơ gan còn bù tái điều trị với PegIFN và Ribavirin
Điều trị trước
Interferon/RibavirinPegInterferon/Ribavirin
HCV Genotype 1119
HCV Genotype 2 hay 35045




5.Kết quả điều trị sau SVR ở bệnh nhân xơ gan còn bù
Tiến trình xơ hóa gan thoái lui và cải thiện kết quả điều trị lâm sàng sau SVR. Camma và đồng sự thực hiện nghiên cứu lớn với 1013 bệnh nhân qua 3 thử nghiệm với INF hoặc pegINF trải đều trên phổ từ xơ hóa nhẹ đến xơ gan mà có sinh thiết gan ở mức nền và sau 6 tháng điều trị. SVR đi kèm với sự giảm -0.59 trên thang điểm xơ hóa 4. Trong một nghiên cứu khác, SVR đi kèm với sự giảm -1.0 trên thang điểm xơ hóa và giảm -0.65 trên thang điểm viêm. Trong phân tích đa biến, yếu tố duy nhất đi kèm với sự cải thiện về mặt mô học trong quần thể là SVR và cân nặng thấp.
Veldt và đồng sự nghiên cứu 479 bệnh nhân với thời gian theo dõi trung bình 2.1 năm (từ 0.8-4.9 năm); 142 bệnh nhân tiến đến SVR và kết quả điều trị được so sánh với 337 bệnh nhân không có SVR. SVR đi kèm với sự giảm phức hợp điểm kết thúc bao gồm xơ gan mất bù, ghép gan và tử vong: sự cải thiện kết quả điều trị chủ yếu liên quan đến sự giảm tử vong do bệnh gan. Bruno và cộng sự nghiên cứu 883 bệnh nhân với xơ gan trên sinh thiết được theo dõi trung bình 96.1 tháng (từ 6-167 tháng). Không có các biến chứng liên quan đến bệnh gan, tỷ lệ ung thư tế bào gan và tử vong liên quan đến bệnh gan thấp hơn rất nhiều ở nhóm 124 bệnh nhân đã đạt SVR. Do đó, SVR làm ngừng hoặc thoái lui tiến trình xơ hóa, phòng ngừa tiến triển của bệnh, và giảm tỷ lệ điều trị lâm sang ở bệnh nhân xơ gan hoặc xơ hóa tiến triển.
Mặc dù bệnh nhân với xơ gan còn bù có thể khó điều trị và khó chữa khỏi, việc đạt SVR giúp thu được kết quả lâm sàng cải thiện rõ rệt về lâu dài và giúp đảm bảo một nỗ lực dùng liệu pháp kháng virus.
6.Bệnh nhân mất bù: các tiêu chuẩn chọn lựa
Điều trị bệnh nhân với xơ gan mất bù trên lâm sàng sử dụng pegINF/ribavirin gặp phải một số vấn đề: đáp ứng virus học thấp hơn và các biến chứng nặng nề hơn, một số đe dọa tử vong, có thể xảy ra. Hơn nữa, một  số đặc trưng ở những bệnh nhân này làm suy yếu đáp ứng virus học. lựa chọn kỹ lưỡng đối tượng có thể mang lại khả năng đáp ứng SVR cao nhất và hạn chế nguy cơ.
Bảng 2 . Những yếu tố ngăn chận đáp ứng virus khi điều trị PegIFN/Ribavirin ở bệnh nhân xơ hóa tiến triển hay xơ gan còn bù
HCV genotype 1, đặc biệt lượng virus cao
Mức độ xơ Ishak 5 hay 6  hay tiểu cầu dưới 125×109/L
Giảm liều PegIFN hay Ribavirin
Dùng PegIFN /Ribavirin không liên tục
Tổn thương gan nặng nề
Không đáp ứng hay tái phát khi điều trị IFN hay PegIFN/Ribavirn
Không chịu được tác dụng phụ
Giảm tế bào máu
Bệnh nhân xơ gan mất bù thường được đánh giá khả năng cấy ghép gan và, nếu đáp ứng các tiêu chuẩn, họ sẽ được đưa vào danh sách chờ. Khoảng 40% số bệnh nhân chờ được ghép gan ở Mỹ có chẩn đoán nhiễm nguyên phát hoặc thứ phát viêm gan C. vì những bệnh nhân này có thể mất bù hơn nữa trong quá trình điều trị, nhiều trung tâm hạn chế điều trị ở những bệnh nhân xơ gan mất bù mà đã được lên lịch hoặc là đối tượng của ghép gan.
Hội nghị về sự phát triển đồng thuận trong ghép gan và viêm gan C đề nghị những bệnh nhân trong danh sách chờ có điểm MELD 18 hay ít hơn có thể được xem xét để điều trị. Hơn nữa, hiệp hội bệnh gan học của Mỹ đã đưa ra phác đồ nêu lên rằng các bệnh nhân được chọn lựa ghép gan với mức độ tổn thương gan nhẹ có thể được xem xét dùng liệu pháp kháng virus, khởi đầu với liều thấp, “miễn là điều trị được tiến hành bởi thầy thuốc có kinh nghiệm, với sự theo dõi chặt chẽ đề phòng biến cố xảy ra.”
Theo những phác đồ này, các đặc trưng của bệnh nhân để trở thành đối tượng tiềm năng của liệu pháp kháng virus bao gồm:
Điểm MELD thấp hơn hoặc bằng 18
Người hiến tạng còn sống
Thang điểm MELD cải tiến trong ung thư gan nguyên phát
ở Mỹ, điểm MELD trung bình tại thời điểm hiến tạng thường lớn hơn 25. Những bệnh nhân này thường là quá nặng để chữa. bệnh nhân được ghép gan nhận từ người hiến còn sống thường có bệnh lý ít nghiêm trọng hơn và điểm MELD thấp hơn tại thời điểm ghép, khi so sánh với bện nhân đang chờ đợi ghép tạng từ người hiến đã chết. Bệnh nhân được chấm theo thang điểm MELD cải tiến cho ung thư tế bào gan nguyên phát giai đoạn sớm cũng có bệnh lý gan tương đối nhẹ. Điểm MELD dựa vào độ nghiêm trọng của bệnh lý gan trước khi thang điểm MELD cải tiến cho bệnh ung thư gan sẵn có thường thấp hơn 18.
7.Kết quả của liệu pháp kháng virus
Có 2 mục tiêu điều trị bệnh nhân với xơ gan mất bù. Đầu tiên là đạt được SVR với hy vọng SVR có thể làm tiến triển của bệnh ổn định hoặc thoái lui và loại bỏ sự cần phải ghép gan. Mục tiêu thứ hai, ở các bệnh nhân đang chờ để ghép gan, là làm cho HCV RNA máu trở nên âm tính trước khi nhận gan ghép dể phòng ngùa tái phát nhiễm HCV sau ghép gan.
8.Ngừng tiến triển của bệnh
Bảng 3 trình bày các nghiên cứu đã được công bố về liệu pháp kháng virus ở bệnh nhân xơ gan mất bù, ngoại trừ nghiên cứu của Iacobellis và cộng sự, phần lớn nghiên cứu trình bày theo hướng một trung tâm, đều là các thử nghiệm không ngẫu nhiên và không có kiểm soát, và bệnh nhân được lựa chọn điều trị là ứng viên hoặc đang chờ ghép gan.
Bảng 3. Tỉ lệ SVR ở bệnh nhân xơ gan mất bù
Tác giảSố bệnh nhânĐiều trịRNA(-) cuối điều trịSVR %
Lacobellis66PEG/RBV4920
Forns51PEG/RBV2920
Takin20PEG/RBV4530
Annicchiarico15PEG/RBV4720
Lim/Imperiale32IFN,PEG/RBV31
Everson124IFN/RBV4624
Forns30IFN/RBV3020
Thomas20IFN6020
Amarapurkar18IFN±RBV6138
Crippin15IFN±RBV330
Total3914423

Icosabellis và cộng sự nghiên cứu ngẫu nhiên 129 bệnh nhân với xơ gan mất bù do viêm gan C mà không phải là đối tượng ghép gan, cho điều trị với PegINF/ribavirin  (N=66) hoặc không được điều trị (N=63). Những bệnh nhân được lựa chọn cho thử nghiệm này đã từng vào viện vì báng, chảy máu tĩnh mạch trướng hoặc bệnh não han, được điều trị lần đầu với INF/ribavirin hoặc pegINF/ribavirin, và không có suy gan rõ ràng. Khoảng 75% bệnh nhân được xếp vào nhóm Child-Pugh A hoặc B và điểm MELD trung bình 14. 2/3 đã nhiễm HCV typ 1 và số lượng tiểu cầu trung bình là 86*10^9/L. tỷ lệ SVR lần lượt là 43.5% và 7.0% ở bệnh nhân nhiễm HCV typ 2 hoặc 3 và typ 1. Kết quả điều trị ở những bệnh nhân đạt được SVR là khả quan hơn và bao gồm sự giảm đáng kể nguy cơ xơ gan mất bù, biến chứng và tử vong do gan. Kết quả này khuyến khích sự loại bỏ HCV bằng liệu pháp kháng virus có thể giảm sự tiến triển của bênh và khả năng cao cứu sống bệnh nhân xơ gan mất bù. Tuy nhiên, sự đáp ứng thấp ở các bệnh nhân nhiễm HCV typ 1 đi kèm với các biến cố không có lợi làm giới hạn chiến lược này.
Bệnh nhân với xơ gan cần được theo dõi liên tục, ngay cả sau khi SVR. Chúng tôi đã khảo sát kết quả điều trị lâu dài 18 bệnh nhân đã đạt được SVR nhưng không được ghép gan (dữ liệu không được công bố). Những bệnh nhân này giảm nguy cơ mắc các biến chứng và tử vong do gan, nhưng có 4 người mắc ung thư gan. Mặc dù SVR và sự ổn đinh về bệnh gan, bệnh nhân với xơ gan cần được tiếp tục theo dõi thường xuyên về nguy cơ ung thư gan.
Chúng tôi báo cáo kinh nghiệm điều trị 124 bệnh nhân với viêm gan C tiến triển với liều lượng thuốc tăng tiến (LADR) INF hoặc pegINF và ribavirin. 80% được xếp vào child-pugh A hoặc B, điểm CTP trung bình là 7.4±2.3 và điểm MELD trung bình là 11.0 ±3.7. SVR là 13% và tái phát trong 65% số bệnh nhân với HCV kiểu gen 1 và 50%, 42% ở bệnh nhân với HCV typ 2 hoặc 3. Hiện nay đã có nhưng báo cáo bao hàm 391 bệnh nhân, thu được kết quả SVR 23%.
Theo kinh nghiệm của chúng tôi, tác dụng phụ và biến cố bất lợi là thường gặp. trong quá trình điều trị, 56% số bệnh nhân bị thiếu máu (Hb<12), 49% giảm bạch cầu và 33% giảm tiểu cầu. trong số 22 biến chứng nặng, 21 diễn ra ở 14 bệnh nhân xơ gan với CTP nhóm B hoặc C, biến chứng bao gồm bệnh não gan, báng, nhiễm trùng, xuất huyết tiêu hóa, đái tháo đường và tắc mạch. Có 7 ca tử vong, 2 đang được điều trị với liệu pháp kháng virus.
9.Phòng ngừa tái phát HCV sau ghép gan
Như đã nói ở trên, một trong những mục tiêu điều trị bệnh nhân xơ gan mất bù đang đợi ghép gan là làm nồng độ HCV RNA tróng máu trở về âm tính nhằm ngăn ngừa tái nhiễm mô gan ghép với HCV. Từ kinh nghiệm đã được công bố của chúng tôi, với 47 bệnh nhân đã được ghép gan thì 32 người là đã có RNA HCV (+) và 15 người âm tính tại thời điểm ghép gan. 32 bệnh nhân có HCV RNA (+) trước ghép đều bị tái nhiễm HCV sau ghép. Ngược lại, 12 trên 15 bệnh nhân HCV RNA (-) tại thời điểm ghép gan vẫn tiếp tục không bị nhiễm sau cấy. những kết quả này chứng minh rằng sự ức chế có hiệu quả HCV RNA trước ghép gan có khả năng loại bỏ rất lớn nguy cơ tái nhiễm sau ghép.  Kết quả tương tự được báo cáo bởi Forns và cộng sự, với 30 bệnh nhân được điều trị viêm gan C và xơ gan đang chờ được ghép gan với thời gian ước tính chờ ghép là 5 tháng hoặc ít hơn. 9 bệnh nhân (30%) thành công với điều trị loại bỏ HCV RNA trong máu và 6  (20%) tiếp tục không bị nhiễm sau ghép gan. Đáp ứng virus học rất sớm là yếu tố dự báo cao nhất cho SVR. Nhìn chung, các kinh nghiệm đã được công bố đề nghị rằng nguy cơ tái nhiễm sau ghép có thể được phòng ngừa trong số 21% bệnh nhân được lựa chọn cho điều trị này.
Bảng 4. Phòng ngừa tái phát sau ghép gan
Tác giảSố bệnh nhânRNA(-) lúc ghép ganĐáp ứng virus sau ghép gan
Forns512920
Everson473226
Forns303020
Thomas206020
Crippin200
Everson7946-69G1 18, G2,3 39
Total1503421
Kinh nghiệm gần đây nhất từ Barcelona nhấn mạnh các yếu tố thuận lợi và bất lợi của liệu pháp kháng virus trước ghép gan. ở mặt tốt, điều trị đi kèm với SVR 20%, yếu tố dự báo cho SVR bao gồm đáp ứng virus học sớm và nhiễm HCV không phải kiểu gen typ 1. Ngược lại, mặt xấu của điều trị và tỷ lệ mắc mới nhiễm trùng cao hơn khi so với từng trường hợp có kiểm soát. Các tác giả đã khuyến cáo điều trị dự phòng kháng sinh khi đang sử dụng liệu pháp kháng virus ở nhóm bệnh nhân này.
Khuyến cáo hiện nay là bệnh nhân xơ gan mất bù chỉ nên được điều trị dự phòng với liệu pháp kháng virus bởi thầy thuốc có kinh nghiệm trong bối cảnh thử nghiệm lâm sàng.
10. Các yếu tố tăng trưởng
Nhiều bệnh nhân xơ gan có thể giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu và thiếu máu trước khi nhập viện điều trị. Sử dụng INF và ribavirin ở nhóm bệnh nhân này có thể làm giảm các tế bào nhiều hơn nữa. Giảm bạch cầu và tiểu cầu do điều trị là thường gặp và nặng nề với pegINF hơn non-peg INF. Ích lợi của tỷ lệ đáp ứng virus học cao hơn với pegINF có thể cân bằng với biến chứng giảm tế bào.
Hai chiến lược được sử dụng để khống chế những tác dụng phụ này: giảm liều hoặc sử dụng yếu tố tăng trưởng như là G-CSF và đồng phân erythropoietin. Giá trị của G-CSF và EPO trong việc ngăn ngừa biến chứng hoặc thúc đấy đáp ứng virus học là chưa biết. Tuy nhiên, chiến lược thay thế, giảm liều, có thể làm giảm mục tiêu ban đầu về đạt được tỷ lệ đáp ứng virus học cao nhất. Dietrich và đồng sự đã chỉ ra rằng sử dụng EPO trong điều trị viêm gan C mạn với INF và ribavirin có thể tăng nồng độ Hb và duy trì liều cao ribavirin. Vì những lý do này, việc sử dụng các yếu tố tăng trưởng được ưa thích hơn là giảm liều trong vấn đề xử trí giảm tế bào.
11.Xử trí bệnh nhân thất bại điều trị
Mục tiêu đầu tiên của liệu pháp kháng virus là duy trì tình trạng sạch virus máu, chỉ đạt được ở một số ít bệnh nhân xơ gan, đặc biệt ở các bệnh nhân với bệnh lý nặng hoặc mất bù. Trong trường hợp không đạt được SVR, việc ức chế hoạt động của bênh và theo dõi bệnh nhân với bệnh lý tiến triển và ung thư gan là mục tiêu thứ hai.
Liệu pháp duy trì với pegINF liều thấp được khuyến khích như là 1 cách để kiểm soát tiến triển của bênh. Tuy nhiên, các báo cáo gần đây cho kết quả 1050 bệnh nhân (622 với xơ hóa tiến triển và 428 với xơ gan) từ thử nghiệm HALT-C chỉ ra rằng liệu pháp duy trì này là không có hiệu quả. Trong HALT-C, 517 bệnh nhân được điều trị đơn liệu pháp với pegINFtrong vòng 3,5 năm và 533 không được điều trị nhưng theo dõi như là nhóm chứng. Mặc dù ALT, HCV RNA và viêm gan đều thấp hơn rõ rệt ở bệnh nhân với pegINF, không có sự khác biệt về tỷ lệ kết quả điều trị lâm sàng (34.1% trong nhóm điều trị và 33.8% trong nhóm chứng). Kết quả điều trị bao gồm tử vong, ung thư gan, xơ gan mất bù hoặc tiến triển đến xơ hóa và xơ gan. Có một xu hướng là tỷ lệ biến chứng cao hơn trong nhóm được điều trị (p=0.07). Các kết quả không được công bố từ COPILOT và EPIC, các thử nghiệm về duy trì pegINF nồng độ thấp đều thất bại trong việc chứng minh cải thiện kết quả điều trị, mặc dù các biến cố tăng áp cửa như chảy máu tĩnh mạch trướng, là thấp hơn ở bệnh nhân được điều trị với pegINF. Kết luận từ những thử nghiệm này là liệu pháp duy trì không có vẻ giúp ích trong việc cải thiện điều trị.
Do không có liệu pháp hữu hiệu để khống chế tiến triển của bệnh, các bệnh nhân xơ gan phải được theo dõi các biến chứng của xơ gan và khả năng phát triển ung thư gan. Phác đồ sàng lọc để phát hiện và xử trí tĩnh mạch trướng thực quản và ung thư gan đã được đảm bảo. Mặc dù thăm dò là đặc biệt hợp lý ở những bệnh nhân không đáp ứng liệu pháp kháng virus và những người có HCV (+), bệnh nhân với xơ gan đã đạt được SVR vẫn có khả năng bị ung thư gan nên vẫn cần được theo dõi.
TỔNG KẾT
Liệu pháp kháng virus ở bệnh nhân viêm gan C mạn và xơ gan còn bù, xơ gan mất bù hoặc bệnh nhân đang chờ ghép gan đang được mở ra. Dữ liệu hiện tại từ các nghiên cứu lâm sàng có sẵn khuyến cáo rằng gần 1/3 bênh nhân mới mắc HCV kiểu gen 1 và 2/3 bệnh nhân mới mắc HCV typ 2 và 3 với xơ hóa tiển triển hoặc xơ gan còn bù giai đoạn sớm có thể đạt được SVR. Những kết quả này thúc giục nhiều ý kiến nên điều trị quyết liệt ở bệnh nhân xơ gan còn bù tốt (CTP nhóm A) mà không có bằng chứng mất bù trên lâm sàng. Tuy nhiên, đáp ứng của xơ gan đối với liệu pháp kháng virus giảm theo độ nặng của bệnh gan và không đáp ứng với điều trị INF trước đó. Kinh nghiệm thu được từ các công bố chỉ ra rằng chỉ khoảng 23% số bệnh nhân với xơ gan mất bù có thể đạt được SVR với liệu pháp hiện nay. Ngược lại, SVR ở kiểu gen 2 và 3 vào khoảng 50%. Tỷ lệ SVR thấp ở bệnh nhân mất bù liên quan đến tỷ lệ hiện mắc cao của kiểu gen 1, sự thất bại trong việc dùng liều tối đa INF và ribavirin do tác dụng phụ và liều hạn chế do giảm tế bào, nguy cơ biến chứng liên quan đến suy giảm chức năng gan. Mặc cho tỷ lệ SVR thấp, sự xóa bỏ HCV trong máu khi điều trị xuất hiện ở khoảng 30% bệnh nhân có kiểu gen 1 và 80% ở kiểu 2 và 3; những bệnh nhân này vẫn còn duy trì một số khả năng đáp ứng với INF/ribavirn. Hơn nữa, sự xóa bỏ HCV RNA trước ghép gan có thể giảm nguy cơ tái nhiễm HCV sau ghép gan. Việc bổ sung liệu pháp kháng HCV hoạt động cao đơn độc hoặc kết hợp với pegINF/ribavirin có thể cải thiện đáng kể kết quả điều trị ở bệnh nhân xơ gan và giảm tỷ lệ tái nhiễm HCV sau ghép gan. Các thử nghiệm có đối chứng kỹ lưỡng về các liệu pháp kháng virus mới là rất cần thiết cho các bệnh nhân khó điều trị và khó chữa khỏi này.  

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Những thay đổi trên da báo hiệu bệnh gan

Gan làm nhiệm vụ hóa giải độc tố và đào thải muối mật. Các bệnh lý về gan gây suy giảm chức năng gan dẫn đến các độc tố, muối mật tích tụ trong cơ thể và lắng đọng ở da, gây kích ứng da, mẩn ngứa.

Những thay đổi trên da báo hiệu bệnh gan 1
 
Mẩn ngứa, mề đay, mụn nhọt: Gan làm nhiệm vụ hóa giải độc tố và đào thải muối mật. Các bệnh lý về gan gây suy giảm chức năng gan dẫn đến các độc tố, muối mật tích tụ trong cơ thể và lắng đọng ở da, gây kích ứng da, mẩn ngứa.
Trường hợp nhẹ có thể chỉ gây ra hiện tượng ngứa ngáy, khó chịu, da đỏ lên, đôi khi nổi mề đay từng vùng trên da hoặc toàn thân. Trường hợp nặng hơn có thể nổi nhiều mụn ngứa, ngứa dữ dội, càng gãi càng ngứa, đôi khi tạo thành các đám mụn nước, phù nề nhẹ, vỡ ra gây nhiễm trùng.
Vàng da: Gan có chức năng chuyển hóa sắc tố mật (bilirubin) trong máu để có thể bài tiết qua phân. Các tổn thương tại gan gây suy giảm chức năng gan như viêm gan do vi rút, viêm gan do rượu, gan nhiễm mỡ, nhiễm độc gan do thuốc... dẫn đến tăng bilirubin trong máu.
Vàng da trong các bệnh về gan do lượng sắc tố mật trong máu tăng lên, thường có thể được nhận biết khi nồng độ bilirubin vượt quá 2,5 - 3 mg/dL. Màu sắc của da có thể phản ánh mức độ tăng của bilirubin trong máu. Khi bilirubin trong máu tăng cao, niêm mạc lòng bàn tay, bàn chân, niêm mạc lưỡi và kết mạc mắt cũng có màu vàng, kèm theo phân bạc màu, nước tiểu ít và sẫm màu.
2. Lá gan “mát” cho làn da đẹp
Những thay đổi trên da báo hiệu bệnh gan 2 
Những thay đổi bất thường trên da có thể là tín hiệu lá gan của bạn đang “bốc hỏa” vì phải làm việc quá sức. Vì vậy, giải pháp đầu tiên là giảm tải công việc cho gan.
Nên hạn chế những thực phẩm chứa nhiều dầu mỡ, thức ăn nướng, chiên xào, đồ ăn cay nóng, bia rượu và các đồ uống có chứa cồn…
Để gan khỏe mạnh, nên bổ sung trong bữa ăn hàng ngày những thực phẩm có lợi cho gan như hành tỏi, cà rốt, chanh, củ cải, các loại rau lá xanh…
Theo Đông y, gan là nơi dự trữ và điều hòa lượng máu trong cơ thể. Nóng gan khiến cho khả năng thanh lọc độc tố, giải nhiệt độc của gan bị giảm sút dẫn đến nhiệt độc tích tụ trong máu, lâu ngày sinh ra mụn nhọt, mẩn ngứa, mề đay. Chính vì vây, Đông y thường dùng các thảo dược như Actiso, Bồ công anh, Cát căn, Bìm bìm… giúp thanh lọc độc tố, làm mát gan, giúp làm đẹp da từ bên trong.
 
Theo Dân trí

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

6 mẹo nhỏ giữ gìn sức khỏe của bạn

Ăn uống không khoa học khiến dạ dày bị tổn thương. Làm thế nào để ăn uống một cách khoa học, không hại sức khỏe?
Dưới đây là 6 bí quyết ăn uống gìn giữ sức khỏe mà bạn nên nhớ.

1. Lót dạ bánh quy trước bữa ăn
Trước khi ăn tốt nhất hãy lót dạ bằng bánh quy, bánh xốp hoặc thậm chí có thể ăn hoa quả. Bí quyết này vừa có thể tăng cảm giác no vừa có thể tránh nạp quá nhiều thịt và chất béo trong bữa ăn. Vậy nên, nó không những giúp bạn khỏe mạnh mà còn giải tỏa lo lắng tăng cân.

2. Ăn nhiều rau hơn
Hãy ăn nhiều rau xanh hoặc hoa quả, nhằm bổ sung lượng chất xơ và vitamin. Điều này đặc biệt cần thiết trong những ngày lễ tết. Với tỷ lệ 3 rau - 1 thịt hoặc 4 rau - 1 thịt thì cho dù chất béo có nhiều đến đâu thì cũng có thể thải ra ngoài theo chất xơ trong rau.

3. Tránh nạp quá nhiều protein và cholesterol
Nếu muốn giảm bớt lượng protein và cholesterol, hãy hạn chế ăn các món chiên hoặc thức ăn tẩm bột. Thực phẩm động vật như gà, vịt, hay lợn bò cần phải hạn chế, nếu không cơ thể sẽ có axit dễ gây mệt mỏi. Đồ ăn hải sản như cua, tôm, cá… có hàm lượng cholesterol khá cao, tốt nhất đừng ăn nhiều.
Đặc biệt trong các bữa ăn buffet, nên ăn ít các loại thực phẩm này để tránh gây gánh nặng cho dạ dày và gan. Thứ tự nên ăn là: canh, rau, món chính, hải sản, thịt….

4. Thêm đá vào bia để giảm nồng độ cồn
Uống nhiều rượu, bia không tốt cho sức khỏe nhưng uống ở mức độ vừa phải thì có thể chấp nhận được. Những người sợ béo tốt nhất hãy chọn nước khoáng hoặc trà. Nếu phải uống bia để vui vẻ hãy cho thêm đá để giảm nồng độ cồn.

5. Tốt nhất lựa chọn trà hoa cúc
Trong bữa ăn không ít các chị em uống thêm nước trà vì nghĩ rằng điều này sẽ giúp giảm cân. Nhưng thực ra cách này không tốt cho sức khỏe. Bởi vì trong lá trà có chứa axit tannic và theophylline, hai chất này đều ảnh hưởng tới hệ tiêu hóa thực phẩm của cơ thể. Trong quá ăn và nửa giờ sau bữa ăn cần cấm uống trà. Tốt nhất hãy uống một trà trước bữa ăn, nếu phải uống nên lựa chọn trà hoa cúc.

6. Không ăn hoa quả sau bữa ăn
Ăn hoa quả ngay sau bữa ăn không có lợi cho sức khỏe, đây là do thực phẩm sau khi xuống dạ dày, cần phải mất 1 -2 giờ tiêu hóa mới có thể từ từ thải ra ngoài. Nếu ăn hoa quả lập tức sau bữa ăn sẽ cản trở những thực phẩm ăn trước lưu lại trong dạ dày, lượng đường trong hoa quả không thể kịp thời đi xuống ruột cũng như lên men trong dạ dày, sinh ra chất fructose dẫn tới đầy bụng và tiêu chảy. Lâu dần sẽ khiến chức năng tiêu hóa có thể bị rối loạn và sinh bệnh.
Điều cần lưu ý là ăn uống sau khi ra ngoài nhất định phải thanh đạm ít dầu, muối, càn phải bổ sung rau, quả ngũ cốc, các sản phẩm từ đậu… để đảm bảo sự cân bằng trong ăn uống.
Nguồn xã luận

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

Giải độc gan - bài thuốc cho mọi người

Giải độc gan - bài thuốc cho mọi người

Gan là một trong những cơ quan lớn nhất của cơ thể, đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa các chất, làm vô hiệu hóa các chất độc hại thâm nhập vào qua đường tiêu hoá, đồng thời làm giảm độc tính và thải trừ một số chất cặn bã, độc hại do chuyển hoá trong cơ thể tạo nên. Gan chống độc bằng cách chuyển hóa các chất độc thành chất không độc hoặc ít độc hơn và thuận lợi cho việc đào thải ra khỏi cơ thể. Chính vì thế, trong tế bào gan luôn chứa rất nhiều men gan, có nhiệm vụ thực hiện các phản ứng hoá học để chuyển hoá, thải trừ các chất độc qua gan. Bình thường, men gan tồn tại trong máu với 1 hàm lượng cố định, nhưng khi gan bị tổn thương, men gan từ trong tế bào gan tràn vào máu khiến hàm lượng men gan trong máu tăng cao, những người uống nhiều bia rượu men gan cũng thường tăng cao.
Thuốc giải độc gan Phúc Lâm
Ngoài ra gan còn có nhiều chức năng quan trọng như: Tạo dịch mật giúp tiêu hóa thức ăn, tạo các yếu tố đông máu và chống đông máu (Do đó khi suy gan thường bị rối loạn chức năng đông máu), chức năng chuyển hoá glucid, protid, lipid.
Tại sao phải bảo vệ gan? Ngày nay con người phải đối diện với rất nhiều tác nhân độc hại cho sức khỏe do môi trường ô nhiễm, do chất bảo vệ thực vật, chất bảo quản thực phẩm, đặc biệt do uống rượu, bia nhiều. Rượu bia góp phần quan trọng trong quá trình gây các bệnh về gan và các biến chứng nặng nề đe dọa tới sinh mạng như  gan nhiễm mỡ, viêm gan, xơ gan, ung thư gan...Các trường hợp có cảm giác nóng trong người, mệt mỏi, bứt rứt khó chịu, ăn khó tiêu, mẩn ngứa trên da, sạm da là những triệu chứng đầu tiên để nhận biết chức năng gan bị suy giảm.

Nguyên nhân gan bị nhiễm độc

Sử dụng các loại thuốc có hại cho gan, không khí, nguồn nước uống hay thức ăn ô nhiễm, Stress trong cuộc sống hàng ngày, uống nhiều rượu bia...
Khi gan có bệnh, bên cạnh các triệu chứng thường thấy như đau vùng hạ sườn phải, người bệnh còn hay gặp những biểu hiện bệnh lý về da trên cơ thể như vàng da, ngứa, sẩn ngứa, ban đỏ, u cục trên da, men gan tăng...
Theo kinh nghiệm dân gian, cà gai leo dùng chữa ngộ độc rượu rất tốt. Tác dụng bảo vệ tế bào gan mạnh đến nỗi khi uống rượu chỉ cần chà răng hoặc nhấm rễ Cà gai leo thì sẽ tránh được say, nếu bị say thì uống nước sắc của rễ hoặc thân lá sẽ nhanh chóng tỉnh rượu, ngoài ra còn dùng chữa rắn cắn, đau nhức xương khớp.
  • Giảo cổ lam
Kết quả nghiên cứu cho thấy Giảo cổ lam có chứa hơn 100 loại Saponin, trong đó có nhiều loại có cấu trúc rất giống với Saponin có trong Nhân sâm và Tam thất (vì vậy có tên Ngũ diệp sâm, Sâm nam). Giảo cổ lam còn chứa nhiều Flavonoid, chất có tác dụng sinh học cao và có tác dụng chống lão hóa mạnh. Ngoài ra còn có các Acid amin tan trong nước, nhiều vitamin và các nguyên tố vi lượng như Zn, Fe, Se
Thử nghiệm lâm sàng tại các bệnh viện Trung ương cho thấy, Giảo cổ lam làm hạ mỡ máu, nhất là đối với cholesterol toàn phần điều trị cho kết quả tốt, ngăn ngừa sơ vữa mạch máu, chống huyết khối và bình ổn huyết áp, phòng ngừa các biến chứng tim mạch, não. Giảo cổ lam làm giảm căng thẳng mệt mỏi, giúp tăng lực mạnh, tăng khả năng làm việc, tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể. Cải thiện các triệu chứng cơ năng cho bệnh nhân như giúp ăn ngủ tốt, hạn chế số lần tiểu đêm, nhuận gan, lợi mật, giúp tiêu hóa tốt, hết hoa mắt, chóng mặt, đau đầu do thiếu máu não. Chính vì tác dụng kỳ diệu cho sức khỏe như vậy nên Giảo cổ lam còn được gọi là cây trường thọ, cây cỏ thần kỳ
Actiso. Giàu vitamin và chất khoáng, tốt cho hệ tiêu hoá, uống rượu nhiều làm tổn thương tế bào gan, gan yếu, hoạt động kém sẽ không kịp tiêu hoá lượng thức ăn cơ thể đưa vào gây đau dạ dày, đầy bụng, đau bụng sau khi ăn và khó tiêu, Actisô kích thích gan tiết mật giúp hệ tiêu hoá hoạt động tốt. Giảm cholesterol và bệnh tim, ngừa việc hình thành những cholesterol mới ở vùng gan, giảm lượng đường máu
  • Diệp hạ châu :
Diệp hạ châu vị đắng, hơi ngọt, tính mát, có tác dụng thanh can lương huyết, lợi tiểu, sát trùng, giải độc và bảo vệ gan. Y học cổ truyền đã sử dụng diệp hạ châu đắp tại chỗ chữa các bệnh ngoài da như lở loét, sưng nề, ngứa ngáy, sắc uống hỗ trợ điều trị viêm gan B, viêm túi mật, thận, ung độc. Nó còn được sử dụng như một thuốc giảm đau, kích thích ngon miệng, kích thích trung tiện, tẩy giun, lợi tiểu, điều hòa kinh nguyệt ở phụ nữ...
Râu ngô: Có tác dụng lợi tiểu trong các bệnh về gan thận, mát gan, giải độc gan, làm hạ đượng huyết, tăng bài tiết nước tiểu, còn có tác dụng cầm máu trong trường hợp xuất huyết tử cung, nhất là người dễ chảy máu.
Sự phối hợp hoàn hảo trong công thức: Cà gai leo, Giảo cổ lam, Actiso, Diệp hạ châu và các Vitamin, Giải độc gan Phúc Lâm có tác dụng tăng cường chức năng giải độc của gan, giải độc cho cơ thể, giúp bảo vệ tế bào của gan

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

Mối nguy từ thuốc giải độc gan


Thứ ba, 10/9/2013 08:47 GMT+7

Mối nguy từ thuốc giải độc gan

Gần đây nổi nhiều mụn nhọt, da xấu đi, nghĩ là do “nóng trong người” nên chị Hòa (quận 7, TP HCM) mua những loại thuốc có công dụng “giải độc gan” về uống. 


 
Ban đầu dùng thuốc, chị Hòa thấy người khỏe khoắn, da đẹp hơn. Tuy nhiên sau một thời gian sử dụng thường xuyên, chị thấy người uể oải, chán ăn, đi xét nghiệm kết quả cho thấy gan của chị bị tổn thương do lạm dụng thuốc.
Bệnh nhân điều trị suy gan. Ảnh: Lê Phương.
Bệnh nhân nhập viện điều trị suy gan. Ảnh: Lê Phương.
Tiến sĩ, bác sĩ Lê Mạnh Hùng, Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới tại TP HCM cho biết, bệnh viện thường tiếp nhận nhiều trường hợp bệnh nhân với những tổn thương gan, viêm gan do sử dụng các thuốc giải độc gan, thuốc bổ gan tùy tiện, không theo chỉ định.
Theo bác sĩ Hùng, sai lầm nhiều người hay mắc phải là khi cơ thể có triệu chứng bất thường đều nghĩ là do “nóng gan” nên mua thuốc giải độc gan, làm mát gan về uống tràn lan. Thường gặp nhất là khi bệnh nhân nổi mụn nhọt, ngứa ngáy, sắc tố da thay đổi… “Có nhiều bệnh lý gan góp phần gây nên những biểu hiện xấu trên da nhưng không ít trường hợp là các nguyên nhân rối loạn nội tiết, yếu tố thời tiết, chế độ dinh dưỡng, bệnh huyết học hoặc một số bệnh lý khác chứ không phải do gan”, bác sĩ Hùng lý giải.
Bác sĩ nhấn mạnh, về nguyên tắc không có bệnh thì không dùng thuốc. Việc dùng thuốc giống như một “con dao hai lưỡi”. Dùng thuốc tức là đưa dược chất vào cơ thể để trị bệnh, ngoài tác dụng chính để trị bệnh, thuốc có thể gây nên những tương tác bất lợi nhất là khi lạm dụng thuốc, dùng thuốc không có hướng dẫn chuyên môn. Thuốc được dùng đúng chỉ định, chính xác thì mới đem lại lợi ích cho người bệnh và tránh được các rủi ro, bất lợi. Hầu như các thuốc sau khi sử dụng đều được đưa đến gan để chuyển hóa và đào thải ra ngoài. Trong quá trình thu nhận và chuyển hóa thuốc, có thể đưa đến các chất có hại gây bệnh cho gan ngay cả khi lá gan đang khỏe mạnh.
Quan niệm sai lầm thường gặp là nhiều người nghĩ rằng các giải độc gan, bổ gan nguồn gốc thảo dược (thuốc Nam, thuốc Đông y,…) vì do chế biến từ cây cỏ thiên nhiên nên vô hại, uống vào “không bổ ngang cũng bổ dọc”. Bác sĩ Hùng đưa ra ví von, cùng một giống cây, nếu mang trồng trên đất này sẽ cho ra quả ngọt, quả to nhưng mang sang đất khác sẽ cho ra quả nhỏ, chua, tùy thuộc vào các điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu... Việc sử dụng các loại thuốc này ở mỗi cơ thể khác nhau cũng vậy. Thuốc Đông y, thuốc Nam cũng là thuốc và cần phải sử dụng theo chỉ dẫn của thầy thuốc trên cơ địa của từng người với từng chẩn đoán bệnh khác nhau, không thể sử dụng tràn lan theo kiểu truyền miệng.
Trong các loại cây thảo dược có những hoạt chất trị bệnh được nhưng cũng có nhiều chất không trị bệnh được và có thể gây hại cho gan. Chính vì vậy việc sử dụng các thuốc này cần phải được nghiên cứu, có quy trình bào chế đúng cách thì mới giúp giữ lại những hoạt chất có lợi, loại bỏ những hoạt chất có hại chứ không phải đơn thuần thuốc nào cũng “sao vàng, hạ thổ, đổ vào… ly nước, sắc còn…” là dùng được. Đó là chưa kể đến trường hợp nhiều người sử dụng các cây thuốc được trồng ở những nơi có độc chất, cây thuốc được bảo quản không tốt bị ẩm mốc, nhầm thuốc… dẫn đến nhiễm độc gan nghiêm trọng.
Một vấn đề phổ biến là nhiều người sử dụng thuốc giải độc gan để ngăn ngừa những tổn thương do uống bia, uống rượu. Do tâm lý đã có thuốc “giải độc”, bảo vệ gan nên nhiều người chủ quan, càng thỏa sức uống bia rượu nhiều hơn. “Dĩ nhiên các loại thuốc này cũng hỗ trợ cho gan trong vấn đề thanh nhiệt, giải độc nhưng đây chỉ là giải pháp tình thế, tạm thời. Nếu uống bia rượu liên tục, uống quá nhiều thì không có thuốc nào có thể giúp gan khỏe được”, bác sĩ Hùng cảnh báo.
Lê Phương